Giới thiệu
Xơ cột bên teo cơ (ALS) là một rối loạn thần kinh xảy ra ở ngưởi trưởng thành, đặc trưng bởi sự mất dần các tế bào thần kinh vận động ở vỏ não và tủy sống, gây ra yếu và teo cơ ở chi, ngực, cổ và vùng hầu họng. Trong khoảng 50% các trường hợp có thể biểu hiện suy giảm nhận thức, từ suy giảm chức năng điều hành đến sa sút trí tuệ trán thái dương, do ảnh hưởng đến vỏ não vùng trước trán. Bệnh có tiên lượng xấu, thời gian sống trung bình từ 2-5 năm từ lúc khởi phát, và tử vong thường do suy hô hấp [6].
Hiện tại chỉ có hai thuốc được chứng minh có hiệu quả làm chậm tiến triển bệnh, lần lượt là Riluzole, có mặt trên thị trường từ năm 1996, và Edaravone, có mặt trên thị trường từ năm 2016 tại các quốc gia châu Á, Mỹ, Canada và Thụy Sĩ.
Sau đây, chúng tôi trình bày chi tiết hơn về hai thuốc này.
Lịch sử phát triển
Trong suốt 160 năm nghiên cứu về xơ cột bên teo cơ, khoa học vẫn chưa phát hiện được thuốc nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh, dù đã có hơn 200 thử nghiệm lâm sàng về bệnh được thực hiện bởi hơn 60 tổ chức và công ty trên toàn cầu[1]. Vào đầu những năm 1990, riluzole là loại thuốc duy nhất được FDA chấp thuận cho sử dụng lâm sàng trong điều trị ALS. Trong những thập kỷ qua, nhiều thuốc khác được thử nghiệm đã cho thấy khả năng làm chậm tiến trình bệnh trên động vật, nhưng không mang lại hiệu quả trong thử nghiệm lâm sàng ở người hoặc vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Sau nhiều thập kỷ, edaravone - do Mitsubishi Tanabe Pharma phát triển - đã được FDA chấp thuận vào ngày 5 tháng 5 năm 2017, sau khi chứng minh hiệu quả trong việc ngăn chặn tiến triển của ALS ở giai đoạn đầu của bệnh. Edaravone hiện đã được chấp thuận sử dụng tại Bắc Mỹ, các quốc gia châu Á, Thụy Sĩ.
Các thử nghiệm lâm sàng
Đối với riluzole
Đã có bốn thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) chứng minh hiệu quả của riluzole giúp kéo dài thời gian sống hơn 3 tháng, và khoảng 10% sống đến 12 tháng nhưng không quá 18 tháng và liều tối ưu là 100mg/ngày[1, 2, 3].
Đối với edaravone
Các thử nghiệm nhãn mở cho thấy edaravone an toàn và hiệu quả trong điều trị ALS, với khả năng giảm mức 3-nitrotyrosine, một chỉ dấu của stress oxy hóa[5].
Một phân tích từ một thử nghiệm tại 29 trung tâm tại Nhật Bản cho thấy thuốc edaravone có hiệu quả giúp duy trì chức năng sinh hoạt hàng ngày tốt hơn ở các bệnh nhân có triệu chứng nhẹ và thời gian bệnh ngắn[4].
Phân tích tổng hợp gần đây nhất bao gồm 16 nghiên cứu (4 RCT và 12 nghiên cứu quan sát) với 4828 bệnh nhân ALS. Dữ liệu từ các RCT gộp cho thấy sự chậm lại một phần suy giảm chức năng ở 3, 6, 9, 12 và 18 tháng. Tuy nhiên, liệu pháp edaravone không ngăn ngừa được sự tiến triển của rối loạn chức năng hô hấp.
Cơ chế tác động
Stress oxy hóa, các gốc oxy hóa hoạt động ROS và độc tính kích thích do glutamate được coi là các yếu tố chính góp phần vào bệnh ALS. Đánh giá kỹ lưỡng về cơ chế tác động của riluzole và edaravone cho thấy:
- Riluzole: Ức chế sự phóng thích glutamate và giảm tác động của glutamate trên các thụ thể NMDA và AMPA, từ đó giảm độc tính kích thích do glutamate gây ra. Điều này giúp bảo vệ các tế bào thần kinh vận động khỏi sự kích thích quá mức và thoái hóa[4].
- Edaravone: Mục tiêu chính xác ở mức độ tế bào và phân tử của edavarone vẫn chưa được biết rõ. Tuy nghiên, vì là một chất thu dọn gốc tự do mạnh, edaravone tập trung vào việc giảm stress oxy hóa bằng cách trung hòa các gốc tự do ROS, bảo vệ tế bào thần kinh khỏi tổn thương do stress oxy hóa[7].
Liều, đường dùng, tác dụng phụ và bảo quản
Riluzole:
- Liều khuyến cáo: 50 mg mỗi 12 giờ, nên uống ít nhất một giờ trước hoặc hai giờ sau bữa ăn để tránh giảm sinh khả dụng do thức ăn.
- Tác dụng phụ liên quan đến liều: Buồn nôn, suy nhược, và tăng men gan (alanine transaminase - ALT), thường xuất hiện trong vòng 3 tháng đầu sau khi bắt đầu dùng thuốc và trở lại dưới mức cao gấp đôi giới hạn bình thường sau 2-6 tháng nếu điều trị được duy trì.
- Bảo quản: Trong bóng tối, ở nhiệt độ phòng từ 15°C đến 30°C.
Edaravone:
- Liều khuyến cáo: 60 mg truyền tĩnh mạch (IV) trong 60 phút, chia thành hai lần truyền liên tiếp 30 mg/100 ml với tốc độ truyền khoảng 1 mg/phút hoặc 3,33 ml/phút.
- Chu kỳ điều trị ban đầu: Truyền hàng ngày trong 14 ngày, sau đó nghỉ thuốc 14 ngày. Trong các chu kỳ tiếp theo, dùng thuốc hàng ngày trong 10 ngày của mỗi chu kỳ 14 ngày, sau đó nghỉ 14 ngày.
- Bảo quản: Trong bóng tối, ở 25°C.
Thạc sĩ – Bác sĩ Phạm Tiến Phương
Khoa Nội thần kinh đột quỵ, Bệnh Viện Gia An 115
Tài liệu tham khảo
1. Bensimon, G., Lacomblez, L., and Meininger, V. (1994), "A controlled trial of riluzole in amyotrophic lateral sclerosis. ALS/Riluzole Study Group", N Engl J Med. 330(9), pp. 585-91.
2. Fang, T., et al. (2018), "Stage at which riluzole treatment prolongs survival in patients with amyotrophic lateral sclerosis: a retrospective analysis of data from a dose-ranging study", Lancet Neurol. 17(5), pp. 416-422.
3. Lacomblez, L., et al. (1996), "Dose-ranging study of riluzole in amyotrophic lateral sclerosis. Amyotrophic Lateral Sclerosis/Riluzole Study Group II", Lancet. 347(9013), pp. 1425-31.
4. "Safety and efficacy of edaravone in well defined patients with amyotrophic lateral sclerosis: a randomised, double-blind, placebo-controlled trial" (2017), Lancet Neurol. 16(7), pp. 505-512.
5. Sawada, H. (2017), "Clinical efficacy of edaravone for the treatment of amyotrophic lateral sclerosis", Expert Opin Pharmacother. 18(7), pp. 735-738.
6. van Es, M. A., et al. (2017), "Amyotrophic lateral sclerosis", Lancet. 390(10107), pp. 2084-2098.
7. Yamamoto, Y., et al. (1996), "Antioxidant activity of 3-methyl-1-phenyl-2-pyrazolin-5-one", Redox Rep. 2(5), pp. 333-8.
8 . Miller RG, Mitchell JD, Moore DH(2012). Riluzole for amyotrophic lateral sclerosis (ALS)/motor neuron disease (MND). Cochrane Database Syst Rev.;3:Cd001447.
9 Huang SL, Shen YL, Peng WY, Ye K, Zheng H.(2024). Edaravone for patients with amyotrophic lateral sclerosis: a systematic review and meta-analysis. Acta Neurol Belg.124:895-904.